Cá Kèo – Những kinh nghiệm nuôi cá Kèo bà con nông dân cần biết

Cá Kèo hay còn có tên gọi khác là cá bống kèo là một trong những loài thủy sản đặc trưng của khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Cá Kèo mang lại nguồn thu vô cùng quan trọng đối với người dân, do đó tình hình nuôi cá Kèo ngày càng phổ biến và phát triển rộng rãi. Để hiểu rỏ hơn về cá Kèo, BaoKhuyenNong mời các bạn theo dõi trong bài viết dưới đây nhé.

Đặc điểm sinh học của cá Kèo

Đặc điểm sinh học của cá Kèo
Đặc điểm sinh học của cá Kèo

Đặc điểm hình thái và phân loại

Cá Kèo là loài thuộc nhóm cá bống Gobiidae. Cá kèo phân bố rất rộng, từ vùng cận nhiệt đốí đến vùng nhiệt đới, vùng ven biển Ấn Độ dương đến vùng Thái Bính dương, vùng Tahiti vấ vùng biển phía Nam Trung Quốc. Ở vùng Nam và Đông Nam châu Á, nhóm cá Gobiidae hiện có khoảng trên 50 loài thuộc 29 gíống, Họ cá kèo Apocrypteídae là một trong những họ phân bố rộng ở vùng biển các tỉnh Nam bộ từ Bến Tre, Bạc Liêu, Sóc Trăng đến Cà Mau, tập trung ở các khu vực cửa sông, cửa biển và các bãi triéu. Chúng có sản lượng khai thác hàng năm khá cao. Loài cá bống kẻo đang được khai thác và nuôi thương phẩm ở Đổng bằng Sông Cửu Long là loài cá kèo vẩy nhỏ, thuộc hệ thống phấn loại như Bau:

  • Bộ Percíformen
  • Họ Apoerypteidae
  • Giống Pseudapocryptes
  • Loài Pseudapocryptes elongatus Cuvier 1816

Cá kèo có thân hình trụ dài, thân phủ vẩy tròn rất bé. Màu thân xám hơi vàng. Đầu hơi nhọn, mõm tù. Mắt tròn nhỏ, lỗ mang hẹp, màng mang phát triển, lưỡi có dạng cắt ngang. Cá có hai vây lưng rời nhau, vây đuôi dài và nhọn có nhíều hàng chấm đen, các vây còn lại màu trắng nhạt. Cá có kích thước nhỏ, chiều dài thân ít khi vượt quá 25 cm, trọng lượng cơ thể trung bỉnh 30 – 40 gam.

Tập tính sống

Cá Kèo vẩy nhỏ Pseudapocryptes elongatus phân bố khá rộng từ quần đảo Ấn Độ và Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan đến Malaysia và vùng Đồng bằng Sông Cửu Long của Việt Nam.

Cá Kèo vẩy nhỏ sống chủ yếu ở vùng nước lợ và nước mặn có bãi bùn, rừng ngập mặn và cửa sông. Tuy nhiên chúng cũng sống ở cả trong nước ngọt. Cá thường làm hang ở các bãi bùn và kiếm ăn trên các bãi đó. Cá có khả năng thích ứng cao với điều kiện môi trường khắc nghiệt. Theo một số tác giả nghiên cứu về loài cá này, chúng có thể sống được ở cả ba môi trường nước mặn, lợ và nước ngọt và chịu đựng được ở môi trường có độ mặn cao. Cá giống ngoài tự nhiên di cư có thể chịu được sự thay đổi đột ngột từ độ mặn, từ 30 – 35%o (phần ngàn) xuống 10%o hoặc thấp hơn, và chúng cũng có thể sống được trong những vùng nhiễm phèn, pH thấp. Do mang cá có nhiều nếp gấp và có thể phồng to nên cá có khả năng hô hấp trực tiếp từ khí trời và sống được trong điều kiện môi trường có hàm lượng oxy hòa tan thấp, thậm chí sống được trong hang đất bùn với thời gian khá dài. Cá bống kèo thích nơi có thủy triều lên xuống nên có thể chịu được nhiệt độ môi trường dao động lớn, nhiệt độ thích hợp từ 23 – 28°C.

Cá có khả năng sống trên cạn khá lâu nên ngưòi buôn bán cá bống kèo ở các chợ có thể nhốt cá để bán hàng tuần liền trong các dụng cụ nhỏ với ít nước như chậu, xô

Tính ăn của cá

Cá Kèo là loài cá có tính ăn thiên về phù du sinh vật, các loại thực vật sống bám vào nền đáy các vùng nước và mùn bã hữu cơ. Do cá bống kèo sống trong môi trường nền đáy là bùn hoặc cát nên khi khảo sát cá kèo trong tự nhiên cho thấy trong ống tiêu hóa của cá hiện diện các loài tảo, chủ yếu là tảo khuê và tảo lam cùng với mùn bã hữu cơ chiếm tỷ lệ cao. về cấu tạo ống tiêu hóa thì chiều dài ruột dài gấp 3 – 3,5 lần chiều dài cơ thể, chứng tỏ đây là loài cá ăn tạp, thiên về thực vật. Khi nuôi cá trong bể và nuôi thương phẩm trong ao, ngoài thức ăn tự nhiên, cá cũng sử dụng thức ăn công nghiệp khá tốt.

Ở những ao nuôi tôm sú, sau vụ nuôi tôm người ta thả nuôi cá bống kèo thì cá sử dụng rất tốt lượng mùn bã hữu cơ còn lại trong ao, có thể trong tháng đầu tiên khi mới thả cá giống thì chưa cần cho cá ăn thức ăn nhân tạo.

Sinh trưởng của cá

Cá mới nở hết noãn hoàng còn sống ở khu vực ngoài khơi, cách cửa sông tới 8 km. Cá giống 5 tuần tuổi đạt được kích cỡ 1,5 cm. Khi đạt kích cỡ chiều dài 1,6 – 1,9 cm thì cá di cư vào cửa sông. Cá còn nhỏ trước trưởng thành có kích thưóc 2 -10,7 cm thì sống ở vùng bãi triều, nơi có nhiều rừng cây đước, cây mắm và mực nước cạn 20 – 40 cm, có nền đáy bùn và bằng phẳng.

Theo một số tác giả đã nghiên cứu về cá bống kèo, cá có quá trình sinh trưỏng liên tục trong vòng đời, trừ khi cá gặp điều kiện bất lợi. Quá trình tăng trưỏng tự nhiên có thể dừng lại khi cá thành thục và dinh dưõng tích lũy chủ yếu cho sinh sản. Đến thời điểm cá tăng trưởng tối đa thì không còn sự tăng trưỏng mà chỉ duy trì về kích thước và khối lượng cơ thể.

Kết quả nghiên cứu còn cho thấy sự bổ sung quần đàn cá này là 2 lần trong năm và cách nhau khoảng 6 tháng. Cá đực có tốc độ tảng trưởng nhanh hơn cá cái. Cá có thể tăng gấp đôi chiều dài thân sau 1 năm.

Sự thành thục và sinh sản

Sự thành thục và sinh sản của cá Kèo
Sự thành thục và sinh sản của cá Kèo

Cá Kèo trưởng thành khi kích thước chiều dài thân đạt trên 20 cm, lúc này chúng đã di cư vào sống ở vùng sông, kênh, ao trong đất liền. Khi chuẩn bị thành thục sinh dục thì cá di cư ngược ra biển để đẻ trứng. Kích thước tuyến sinh dục của cá bống kèo khá nhỏ. Khảo sát cá đánh bắt ngoài tự nhiên hầu như chỉ mới thấy được trứng cá bống kèo ở giai đoạn III. Tuy buồng trứng của cá không lớn nhưng số lượng trứng khá cao. Số lượng trứng đếm được ở cá thể cái có khối lượng thân trung bình 20 g đạt tới 10.000 – 16.000 trứng. Cho đến nay ta vẫn chưa tìm thấy được bãi đẻ của cá cũng như cá thành thục có buồng trứng phát triển đến giai đoạn IV – V (giai đoạn cá sẵn sàng đẻ trứng). Cá ấu niên xuất hiện vùng cửa sông vào mùa mưa tập trung ở các vùng cửa sông thuộc các tỉnh Bạc Liêu và giáp với Sóc Trăng.

Trong tự nhiên, ở các vùng bãi triều và các nơi cá cư trú, chưa phát hiện thấy cá có tuyến sinh dục ỏ các giai đoạn thành thục sắp đẻ, mà chỉ gặp các cá thể có tuyến sinh dục phát triển đến giai đoạn III với kích thước trứng rất nhỏ. Tuyến sinh dục đạt giai đoạn III từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, sau đó không còn gặp cá có tuyến sinh dục thành thục ở giai đoạn cao hơn. Theo các tác giả khác nhau, rất có thể vào giai đoạn này cá thành thục sinh dục đã di chuyển ra ngoài biển vùng nước sâu có điều kiện sinh thái phù hợp để tiến hành sinh sản.

Khảo sát trong các vùng nước tự nhiên có cá kèo phân bố, từ tháng 5 – 6 có rất ít hoặc không gặp các cá thể cái có mang trứng. Có thể cá đã đẻ trứng vào các tháng 2-3 nên từ tháng 4-5 đã thấy xuất hiện nhiều cá con trong tự nhiên.

Kỹ thuật nuôi cá Kèo thương phẩm

Kỹ thuật nuôi cá Kèo thương phẩm
Kỹ thuật nuôi cá Kèo thương phẩm

Chuẩn bị ao nuôi

Ao nuôi cá bống Kèo (cá kèo) là những ao đất thông thường. Ở vùng ven biển có thể sử dụng ao nuôi tôm sú thâm canh, bán thâm canh hoặc ao nuôi quảng canh để nuôi luân canh cá bống kèo. Vùng làm muối có thể luân canh nuôi cá ống kèo trong ruộng muối vào mùa mưa khi nước bị giảm độ mặn không sản xuất được muối. Từ những kinh nghiệm thực tế nuôi cá bống kèo ở các địa phương cho thấy, ao nuôi có diện tích thích hợp nhất từ 1.000 – 2.000 m2.

Tát cạn ao, diệt hết cá tạp, cá dữ như cá chẽm, cá nâu, cá rô phi và tất cả các loài cá, các loài địch hại khác. Nên dùng rễ dây thuốc cá (Derris elliptica Benth) để diệt tạp, với liều lượng 1kg rễ tươi cho 100 m3 nước ao. Cách làm như sau: Để nước trong ao còn độ sâu 8 – 10 cm và tính toán thể tích nước có trong ao, rễ dây thuốc cá đập dập, ngâm trong nước 5 – 6 giờ rồi vắt lấy nước, hòa loãng, sau đó té đều khắp mặt ao. Tất cả cá sẽ chết hết và vớt đi rồi tháo hết nước hoặc bơm cạn ao để phơi đáy.

Cày hoặc xới đáy ao 1 lớp đất mỏng (5 – 7 cm) để đáy ao thoáng khí, tạo điều kiện cho sinh vật đáy phát triển làm nguồn thức ăn tự nhiên cho cá. Bón lót cho ao bằng phân hữu cơ, liều lượng 20 – 30 kg/100 m2 ao.

Rải vôi bột xuống đáy ao để hạ phèn, diệt tạp, diệt các mầm bệnh, lượng dùng 8 – 10kg/100 m2, sau đó có thể xới đảo bùn đáy để hoà trộn vôi và phân hữu cơ.

Ao cần phơi đáy 2 – 3 ngày. Những ao đã nuôi tôm sú trước đó thì không cần bón lót phân hữu cơ, chỉ nên diệt tạp và cá dữ bằng rễ dây thuốc cá, rải vôi, hạ phèn và diệt mầm bệnh trong đáy ao. Tuy nhiên, đối với những ao ở vùng bị nhiễm phèn thì không phơi đáy.

Lấy nước vào ao qua lưới chắn lọc để tránh địch hại và cá dữ, cá tạp lọt vào ao ăn hại cá và tranh giành thức ăn với cá nuôi. Khi mức nước đạt 0,3 – 0,4m thì có thể thả cá giống. Những ngày sau đó tăng dần mức nước ao cho đến khi đạt theo yêu cầu (0,8 – 1m).

Mùa vụ nuôi

Do nguồn giống phụ thuộc vào sự đánh bắt tự nhiên nên mùa vụ nuôi cá kèo phụ thuộc rất lớn vào mùa cá giống. Thông thường, cá giống xuất hiện từ tháng 3 – 7 (từ 5 – 9 âm lịch) nên mùa vụ nuôi của cá kèo cũng tập trung vào những tháng đó.

Kích cỡ và mật độ thả giống

Giống cá Kèo thả nuôi
Giống cá Kèo thả nuôi

Kích cỡ cá giống: Nên chọn cá giống khoảng 3 – 5cm hoặc 4 – 6cm, cá giống ương nuôi trong ao là tốt nhất vì sẽ có kích cỡ đồng đều hơn, khoẻ hơn vì đã thích nghi với điều kiện trong ao. Chọn cá khoẻ mạnh, hoạt động nhanh nhẹn, không bị nhiễm bệnh, màu sắc tươi sáng, có nhiều nhớt.

Mật độ thả nuôi: Tuỳ theo điều kiện ao, khả năng quản lý chăm sóc và cỡ cá, có thể thả nuôi với mật độ 30 – 60 con/m2, trung bình 50 con/m2. Nếu cỡ cá nhỏ (3cm) nên thả mật độ cao hơn so với cỡ cá lớn (5 – 6cm) để trừ hao hụt trong khi nuôi. Nếu điều kiện quản lý và kiểm soát chất lượng nước chủ động, có thể tăng mật độ nuôi lên cao hơn 60 con/m2.

Chăm sóc và quản lý ao nuôi

1. Thức ăn

Cá bống kèo có tính ăn tạp, ngoài thức ăn tự nhiên có trong ao như phù du động thực vật, sinh vật đáy, rong tảo sống bám, mùn bã hữu cơ… cá còn ăn được các thức ăn do con người cung cấp như ăn thức ăn chế biến và thức ăn viên công nghiệp.

Để duy trì thức ăn tự nhiên, phải định kỳ bón thêm phân hữu cơ đã ủ hoại 10 – 15 kg/100m2/tuần hoặc 100 – 150g phân vô cơ (DAP, NPK)/tuần. Thức ăn chế biến gồm cám gạo (60 – 70%) và bột cá (30 – 40%) được trộn đều và nấu chín, trộn thêm premix khoáng và vitamin A, D, E, C (tổng cộng 0,2 – 0,3% tổng trọng lượng thức ăn). Hàm lượng đạm trong thức ăn dao động từ 25% ở 2 tháng đầu, sau đó giảm dần xuống 22% rồi 20% ở tháng thứ 3,4 và 18% cho hai tháng nuôi cuối. Khẩu phần ăn 4 – 6% trọng lượng thân/ngày. Mỗi ngày cho cá ăn 2 lần vào buổi sáng và chiều mát.

Cho cá ăn thức ăn viên công nghiệp cần phải chọn loại kích cỡ thức ăn phù hợp với độ lớn và kích thước miệng để cá có khả năng sử dụng thức ăn hiệu quả nhất. Hàm lượng đạm trong thức ăn cũng dao động từ 25 – 28%, giảm dần theo tuổi của cá. Khẩu phần ăn thức ăn viên công nghiệp từ 1 – 1,5% trọng lượng thân/ngày và cho cá ăn ngày 2 lần vào sáng sớm và chiều mát.

Ngoài ra, trong thời gian nuôi, thức ăn nên có bổ sung thêm một số loại men tiêu hoá nhằm kích thích cho cá ăn ngon và tiêu hoá thức ăn tốt hơn tránh hiện tượng cá bị chướng bụng, đầy hơi.

2. Quản lý ao nuôi

Quản lý chất lượng nước:

  • Nước ao cần được chủ động điều chỉnh tăng cao hoặc giảm thấp phù hợp với các giai đoạn phát triển của cá nuôi. Giai đoạn hai tuần đầu mới thả cá giống, mực nước ao cần đạt 0,4 – 0,5 m, sau đó tiếp tục dâng từ từ, mỗi tuần cao hơn 0,2 m cho đến khi mức nước đạt tốt đa.
  • Theo dõi mực nước hàng ngày, kiểm tra các yếu tố thuỷ lý, thuỷ hoá của nước ao như nhiệt độ nước, pH, độ trong, độ mặn. Kiểm tra bờ và cống ao đề phòng bờ bị rò rỉ do cua còng đào hang, lưới chắn bị thủng (do bị mục hoặc cua còng kẹp làm rách lưới). Vào mùa mưa, độ mặn nguồn nước cấp và nước trong ao có xu hướng giảm dần, chú ý độ mặn của nước cấp cho ao phải tương đương hoặc không quá chênh lệch với độ mặn nước ao để tránh cá bị sốc. Độ mặn của nước ao nuôi cá bống Kèo, dù vào mùa mưa cũng không nên để quá thấp dưới 30‰. Định kỳ mỗi tuần thay nước 1 lần, mỗi lần khoảng 30% lượng nước ao. Nếu nước ao bị nhiễm bẩn, màu nước xanh quá đậm hoặc chuyển màu nâu, có mùi hôi thì cần phải thay ngay nước mới trong sạch.

Phòng trừ địch hại:

  • Có nhiều loài địch hại săn bắt và ăn thịt cá bống kèo như chim cồng cộc, rắn nước biển (con đẻn), cá nâu, cá rô phi, cá bống mọi, bống cát… Để phòng trừ địch hại, khâu quan trọng khi cải tạo ao là phải tìm diệt hết mọi cá tạp, cá dữ, khi lấy nước vào ao lúc cấp nước lần đầu hoặc các lần thay nước định kỳ, phải chắn lọc kỹ, không để cá nâu và rô phi, bóng mọi, bóng cát nhỏ lọt vào ao qua đường cấp nước. Đối với chim cồng cộc, nên đặt các bù nhìn trên bờ ao hoặc treo dây ngang dọc trên mặt ao có gắn các ống bơ (lon) sữa bò nhằm tạo ra tiếng kêu để xua đuổi chim. Có thể dùng ná (giàng thun) để bắn chim và đuổi chim cũng có hiệu quả.
  • Ngoài ra, để bắt các loài cá bống cát, bống mọi, có thể điều tiết mực nước trong ao (dâng cao sau đó hạ thấp 5 – 10cm) khi đó các loại cá bống mọi, bống cát có thể nằm lại ở phần mái bờ mà nước đã rút và ta dùng vợt thu gom chúng lại.

Quản lý chất lượng nước ao nuôi

Định kỳ kiểm tra và quản lý một số chỉ tiêu về chất lượng nước:

  • Nhiệt độ từ 20 – 30o C.
  • Độ mặn từ 20 – 30‰, tốt nhất là 10 – 25‰.
  • pH từ 7 – 9, tốt nhất 7 – 8,5.
  • Oxy hòa tan > 4 mg/l, không dưới 2 mg/l.
  • Màu nước: Màu xanh lục, xanh vỏ đậu.
  • Độ trong: độ trong dao động tù 20 – 30 cm.
  • Nitrate (NO2–) < 1 mg/l.
  • Ammonia NH3 < 0,2 mg/l.
  • TP P-PO43- < 3 mg/l.

Thu hoạch cá kèo

Sau 5 – 6 tháng nuôi, cá bống kèo có thể đạt trọng lượng trung bình là 20 – 30 g/con (30 – 50 con/kg), tuỳ theo giá cả thị trường, người nuôi chọn thời điểm để thu hoạch. Theo kinh nghiệm của nhiều ngư dân, việc thu hoạch cá bống kèo có nhiều cách, có thể dùng lưới kéo, nhưng cách này không thể thu hoạch hết cá trong ao. Ngư dân lợi dụng đặc tính thích bơi ngược nước của cá bống kèo dùng một loại dụng cụ là “xà lú” để bắt cá chạy ngược nước thì có hiệu quả hơn thu triệt để hơn. Trước khi thu hoạch khoảng 10 ngày, cần giữ cho môi trường ao nuôi thật ổn định. Trước khi thuỷ triều cường thì tháo hoặc tát bớt nước ao, khi bắt đầu thuỷ triều cường thì đưa nước vào ao. Sự chênh lệch mực nước sẽ kích thích cá bống kèo bơi ngược dòng nước chui vào trong xà lú. Sau mỗi đợt thu hoạch lại tát cạn ao hơn và tiếp tục cho nước thuỷ triều vào ao để bắt cá cho đến khi ao cạn hoàn toàn và thu hết cá.

Ngoài ra để thu hoạch những cá còn “ngoan cố” không chịu ngược nước, ngư dân dùng dây thuốc cá với liều lượng thấp rải xuống ao nhằm làm cho cá phải ngoi lên mặt nước và dùng lưới để kéo, nhưng cách bắt này làm cho cá dễ chết, bán không được giá, thường để phơi làm khô cá bống kèo.

Tỷ lệ sống của cá thương phẩm nuôi bằng con giống tự nhiên hiện nay còn chưa ổn định. Theo kết quả khảo sát từ những hộ nuôi cá bống kèo tại vùng Vĩnh Châu – Bạc Liêu, Long Phú (Sóc Trăng) và Bến Tre, cho thấy tỷ lệ sống cá nuôi dao động trung bình từ 15 – 50 %. Một thực tế là con giống thu từ tự nhiên thường có tỷ lệ lẫn giống các loài cá khác, có khi lẫn giống tới 30%.

Năng suất nuôi trung bình ở các địa phương hiện nay đạt trong khoảng 1.000 – 2.000kg/ha. lợi nhuận mang lại do nuôi cá bống kèo từ vài triệu đồng đến hàng chục triệu đồng/ha.

Bệnh thường gặp trên cá Kèo

Bệnh tuột nhớt

Nguyên nhân: Do vi khuẩn Pseudomonas dermoalba gây ra. Bệnh phát sinh do cá bị sây sát trong đánh bắt, vận chuyển hoặc do môi trường nước thay đổi đột ngột. Bệnh có khả năng lây lan rất nhanh giữa các cá thể trong cùng 1 ao và giữa các ao.

Triệu chứng: toàn thân bao phủ một lớp nhớt màu trắng đục. Cá tách đàn, bơi lờ đờ, bỏ ăn. Khi bệnh nặng, mình cá lở loét, vây rách nát, sau đó cá chết rất nhanh.

Phòng bệnh:

  • Luôn giữ môi trường nước trong ao sạch, không bị ô nhiễm. Chọn giống khỏe, vận chuyển đúng quy trình để cá khỏe, không bị sây sát.
  • Nếu nuôi thâm canh, định kỳ 10 -15 ngày xử lý nước và đáy ao bằng các chế phẩm vi sinh.
  • Đảm bảo đầy đủ thức ăn cho cá phát triển khỏe mạnh, định kỳ bổ sung vitamin và khoáng chất vào thức ăn giúp cá tăng cường sức đề kháng.

Trị bệnh:

  • Biện pháp xử lý đầu tiên khi cá nhiễm bệnh là thay 20-30% nước trong ao bằng nguồn nước sạch, vệ sinh xung quanh ao. Dùng thuốc diệt khuẩn xử lý nước trong ao. Dùng thuốc điều trị trộn vào thức ăn theo đúng liều lượng.
  • Rải vôi sát khuẩn bờ ao, tránh lây lan rộng. Không dùng chung dụng cụ chăm sóc của ao bị nhiễm bệnh với ao chưa bị nhiễm bệnh.

Chú ý: Không dùng kháng sinh để phòng bệnh. Nếu phải điều trị bệnh bằng kháng sinh thì ngưng sử dụng thuốc 4 tuần trước khi thu hoạch.

Bệnh trắng đuôi

Nguyên nhân: Do vi khuẩn Pseudomonas dermoalba gây ra.

Triệu chứng: trên đuôi có các đốm trắng, sau đó lây lan đến vây lưng, vây hậu môn. Dần dần đuôi và vây bị xuất huyết, rách nát. Khi bệnh nặng, cá bỏ ăn, bơi lờ đờ, đầu chúi xuống hoặc treo lơ lửng trên mặt nước.

Bệnh nhiễm khuẩn huyết Aeromonas

Nguyên nhân: Do các vi khuẩn Aeromonas (A.hydrophil, A. caviae, A. sobria) gây ra. Bệnh phát sinh khi môi trường ô nhiễm, oxy hòa tan thấp, nuôi mật độ dày. Bệnh có thể xuất hiện quanh năm.

Triệu chứng: Mình cá có những mảng đỏ với nhiều khối u, bụng có từng vùng sẫm màu, lưng có nhiều vết thương, đuôi và vây bị hoại tử, mắt đục, lồi, sưng phù, hậu môn sưng to. Cá bỏ ăn, nổi nghiêng hoặc nổi đứng lờ đờ trên mặt nước.

Các món ăn đặc trưng từ cá Kèo

Cá Kèo kho tiêu

Cách chế biến món cá Kèo kho tiêu
Cách chế biến món cá Kèo kho tiêu

Nguyên liệu: 

  • Cá kèo 400gr
  • Tiêu, mắm, tỏi, đường

Cách chế biến: 

  • Cá kèo làm sạch. Tỏi bóc vỏ đập dập. Pha nước mắm, đường, tiêu để chuẩn bị kho cá.
  • Cho chút dầu vào xào tỏi cho thơm, xếp cá vào nồi rồi đổ hỗn hợp nước mắm, đường, tiêu vào. Om liu riu lửa cho đến khi gần cạn, cá chín. Ăn nóng với cơm

Lẩu cá Kèo lá giang

Lẩu cá Kèo lá giang
Lẩu cá Kèo lá giang

Nguyên liệu:

  • 3 lít nước dùng
  • 500g cá kèo sống, làm sạch nhớt, gây tê bằng nước đá
  • 1 bó (khỏang 200g) lá giang, nhặt lá, rửa sạch, vò nhẹ
  • 2 thìa súp sả, ớt, tỏi băm nhuyễn
  • 4 củ hành tím, thái mỏng, phi vàng
  • 50g me vắt, hòa với 1 bát nước lược lấy nước cốt
  • Gia vị gồm: nước mắm ngon, hạt nêm Knorr từ Thịt thăn Xương ống và Tủy, muối, đường, dầu ăn
  • Rau ăn kèm: bắp chuối bào, rau muống, rau nhút, bạc hà (còn gọi là dọc mùng), rửa sạch
  • Rau nêm: rau om và ngò gai, rửa sạch, thái nhuyễn
  • 500g bún tươi
  • 1 quả ớt sừng.

Cách chế biến:

  • Đun nóng chút dầu, phi thơm sả, ớt, tỏi băm cho vàng thơm.
  • Cho nước dùng vào nấu sôi, nêm nước cốt me, hạt nêm Knorr từ Thịt thăn Xương ống và Tủy để món ăn thơm ngon đậm đà, chút muối, đường vừa ăn.
  • Tiếp tục cho lá giang vào, lấy ra nồi lẩu.
  • Nêm rau om, ngò gai, hành phi vào.
  • Khi nào dùng đun nóng, cho cá kèo vào nấu 5 phút, gắp cá ra đĩa.
  • Trụng các loại rau ăn kèm.

Cá Kèo nướng muối ớt

Cá Kèo nướng muối ớt
Cá Kèo nướng muối ớt

Nguyên liệu:

  • 300g cá kèo
  • 2 thìa súp tôm khô xay
  • ½ thìa súp muối bột
  • 1 thìa café ớt hiểm băm
  • 1/3 thìa café tiêu
  • 1 thìa súp tỏi xay
  • 1 thìa súp dầu ăn
  • Que xiên tre
  • Rau răm ăn kèm
  • Muối ớt chanh để chấm

Cách chế biến:

  • Cá kèo chà sạch nhớt và vảy, cắt vảy, mang, rửa sạch để ráo nước. Trộn cá với tôm khô rồi ướp với muối hột, ớt, tiêu, tỏi để thấm 15 phút.
  • Nướng cá trên lửa than, lật đều mặt, phết dầu ăn liên tục để cà không bị khô. Cá chín dọn ra đĩa, ăn kèm với rau răm, chấm muối ớt vắt chút chanh.

Trên đây, BaoKhuyenNong đã chia sẻ đến các bạn đọc về những đặc điểm của cá Kèo và mô hình kỹ thuật nuôi cá kèo hiệu quả của bà con nông dân. Đồng thời cũng chia sẻ đến các bạn đọc những bệnh thường gặp trên cá Kèo và các món ăn đặc trưng thơm ngon được chế biến từ cá Kèo. Hy vọng bài viết này thật sự hữu ích đối với các bạn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *