Cây cúc áo – Những công dụng chữa bệnh không phải ai cũng biết

Cây Cúc áo mọc hoang trong tự nhiên, thường được ứng dụng để điều trị đau răng, phong tê thấp, ngộ độc, phù thũng, cảm mạo, đau dạ dày. Ngoài ra, còn dùng để chữa rất nhiều bệnh, hãy cùng chúng tôi tìm hiểu về công dụng của cây cúc áo đối với sức khỏe bạn nhé!

Cây cúc áo - Những công dụng chữa bệnh không phải ai cũng biết 6
Cây cúc áo

Những bài thuốc chưa bệnh từ cây cúc áo

Cây cúc áo - Những công dụng chữa bệnh không phải ai cũng biết 7
Những bài thuốc chưa bệnh từ cây cúc áo

Theo y học cổ truyền, cây cúc áo có vị ngọt nhạt, tính bình. Có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tán ứ, tiêu thũng. Dùng chữa cảm, cúm, họng sưng đau,  viêm ruột,  trẻ nhỏ cam tích, chấn thương, mẩn ngứa, lở loét…

Cây cúc áo còn tên gọi là tử tô hoang, tiểu quỷ châm, cương hoa thảo, đơn kim… là cây thảo mọc  hoang, thường thấy ở ven đường, bờ ruộng, bãi hoang quanh nhà. Thân và cành đều có những rãnh chạy dọc, có lông. Lá mọc đối, cuống dài, lá chét hình mác, phía đáy hơi tròn, cuống ngắn, mép lá chét có răng cưa to thô. Cụm hoa hình đầu, màu vàng, mọc đơn độc hay từng đôi một ở nách lá hay đầu cành. Quả bế hình thoi, 3 cạnh, không đều, dài 1cm, trên có rãnh chạy dọc.

Bài 1:  Chữa mẩn ngứa do dị ứng thời tiết: Cây cúc áo 200g, rửa sạch cho vào nồi đổ  4 – 5 lít nước đun lên để nguội bớt để tắm, đồng thời lấy bã xát kỹ lên vết mẩn ngứa. Thường chỉ dùng 1-2 lần là có kết quả.

Bài 2: Chữa đau lưng do làm gắng sức: Cây cúc áo 150g, rửa sạch sắc lấy nước, thêm 250g đại táo, đường đỏ và chút rượu trắng, nấu nhỏ lửa cho đến khi táo chín nhừ, chia 4-5 lần uống trong ngày, uống liền 10 ngày.

Bài 3: Chữa viêm họng do lạnh: Cây cúc áo, kim ngân hoa, sài đất, lá húng chanh, cam thảo đất, mỗi thứ 15g. Tất cả rửa sạch, cho vào ấm đổ 750ml nước sắc nhỏ lửa còn 300ml, chia 3 lần uống trong ngày. Dùng trong 7 ngày. Ngoài ra cần vệ sinh răng miệng sạch sẽ.

Bài 4: Giảm đau nhức răng, viêm lợi: Cây cúc áo cả hoa và lá, rửa sạch cho thêm ít muối, giã nhỏ đặt vào chỗ đau. Hoặc lấy cây cúc áo 50g, rửa sạch, ngâm với 250ml rượu trắng (theo tỷ lệ 1/5). Trường hợp bị đau răng, ngậm trong miệng một lúc rồi nhổ đi.

Trong dân gian, thường hay dùng nhất là hái hoa đem giã nhỏ, ngâm rượu, để ngậm khi bị nhức răng, sâu răng – có tác dụng giảm đau rất tốt; có người còn dùng loại rượu này thay thuốc tê để nhổ răng. Có nơi còn dùng lá giã đắp trên mi mắt bị sưng đau. Ngoài ra, nước ép của lá hay nước sắc của lá có thể dùng đắp lên các vết thương, vết loét. Một số địa phương còn dùng lá cúc áo làm rau ăn và cho rằng có tác dụng chữa bệnh scorbut (chảy máu chân răng).

Bài 5: Chữa chấn thương phần mềm nhẹ, tụ máu đau nhức: Cây cúc áo cả lá và hoa, lá cây đại, mỗi vị 15g, giã nát, băng đắp vào chỗ đau, ngày 1-3 lần.

Bài 6: Chữa trẻ nhỏ cam tích: Cây cúc áo 15g, gan lợn 60g. Rửa sạch lá cây cúc áo rồi cho lá xuống đáy nồi, đổ ngập nước, đặt gan lên phía trên hấp chín, ngày chia 2 lần, ăn liền 5-7 ngày.

Bài 7: Chữa đau nhức do phong thấp:  Cây cúc áo 60g, rửa sạch sắc nước uống, chia 2 lần uống trong ngày. Dùng 15 ngày một liệu trình.

Bài 8: Thuốc chữa hóc xương gà, xương cá:

Hoa hoặc lá cây cúc áo, lá mảnh cộng, lá dưa chuột ma mỗi thứ 50g, dấm thanh khoảng 20ml. Ba thứ lá hái về rửa sạch, giã nát rồi cho dấm thanh vào, trộn đều, đợi khoảng 20 phút rồi vắt lấy 1 chén con nước, uống một ít nhưng chủ yếu là ngậm. Ngày chỉ ngậm 1 liều, trường hợp nặng có thể ngậm tới 3 liều.

Một số địa phương bà con lấy hoa cúc áo giã nát, ngâm nước cho đặc cũng làm chết nhiều bọ gậy.

Công dụng và liều dùng

Cây cúc áo - Những công dụng chữa bệnh không phải ai cũng biết 8
Công dụng và liều dùng

Trong dân gian, công dụng phổ biến nhất là dùng cụm hoa giã nhỏ sau đó ngâm rượu để ngậm khi bị sâu răng, nhức răng. Thuốc có công dụng làm giảm đau. Có nơi đã dùng làm thuốc thay thế thuốc tê để nhổ răng.

Bên cạnh đó loại cây này còn được sử dụng làm thuốc điều trị cảm sốt đau đầu, sốt rét theo cơn, đau cuống họng. Các bệnh về viêm phế quản, ho lao, hen xuyễn và các bệnh phong thấp nhức xương, tê bại.

Với những trường hợp bị nhọt độc, lở ngứa hay những vết thương do rắn độc cắn, tụ máu sưng tấy có thể sử dụng 4 – 8g rễ cây hoặc  4 – 12g toàn thân cây để sắc lấy nước uống. Hoặc có thể sử dụng cây tươi để giã đắp lên vết thương.

Khi mắt bị sưng đau có thể lấy lá giã ra rồi đắp trên mi. Có nơi lại sử dụng lá làm rau ăn hằng ngày vì nó có khả năng chữa bệnh scobut (Chảy máu chân răng).

Ở Malaisia người ta sắc lá sắc lên rồi đắp lên đầu để chữa trị các bệnh nhức đầu, chữa mày đay. Còn ở Ấn Độ, người ta thưởng sử dụng cây này để làm thuốc chữa bệnh nhức đầu, các bệnh về cổ họng và răng lợi. Tại philipin, sử dụng rễ làm thuốc tẩy với liều lượng từ 4 -8g sắc cùng 1 bát nước. Trong nhiều trường hợp, người dân ở ở đây còn sử dụng làm thuốc thông tiểu tiện và có khả năng tiêu được sởi thận.

Lưu ý: Do cơ địa mỗi người khác nhau các vị thuốc trên cần gia giảm cho phù hợp vì vậy, khi áp dụng cần được bắt mạch tư vấn cụ thể. Ngoài ra, tránh nhầm lẫn ở một số địa phương bà con cũng gọi cây cúc áo hoa vàng (Spilanthes acmella (L.) Murr.) thuộc họ cúc (Asteraceae), tên khác là nụ áo vàng. Hoa hình đầu màu vàng.

Sơ lược về cây Cúc áo

Cây cúc áo - Những công dụng chữa bệnh không phải ai cũng biết 9
Sơ lược về cây Cúc áo

Tên gọi và nguồn gốc

Cây cúc áo có tên khoa học là Spilanthes acmella L.Murr (Verbesina acmella L.Eclipta prostrate Lour non L.) thuộc họ cúc Asteraceae.

Ngoài ra giống cây này có có tên gọi khác là hoa cúc áo, nụ áo lớn, ngổ áo, nụ áo vàng, cúc lác, cỏ nhỏ, cỏ the, cuống trầm, hạt sắc phong, phát khát (Vientina), cresstion de Para.

Mô tả cây

Đây là một loại cây nhỏ, thường mọc đứng hoặc mọc bò lan trên đất. Cây có nhiều cành, có chiều cao khoảng chừng 0,40 – 0,70m. Lá có dạng hình trứng hoặc hình trứng thon dài, phiến lá dài từ 3 – 7cm, rộng khoảng 1 – 3cm. Hai bên mép có hình răng cưa to hoặc hơi lượn sóng. Hoa mọc thành cụm, ở phía đầu cành, hơi hình nón, màu vàng, dài khoảng 10 – 15mm, mùa hoa bắt đầu từ tháng 1 – 5 trở đi. Quả bé, có màu nâu, mép có gờ, màu nhạt, dẹt, độ dài khoảng 2 – 8mm.

Toàn cây có vị cay tê – cây mọc hoang cay tê hơn cây trồng trong vườn. Đặc biệt hoa tự có vị rất cay, tê nóng, gây chảy nước dãi rất nhiều. Thường người ta dùng hoa tự hái vào mùa hè và mùa thu. Có nơi dùng toàn cây. Dùng tươi hay phơi khô.

Theo Đông y, cúc áo có vị cay, đắng, tính hơi ấm. Có tác dụng thanh nhiệt lợi thấp, chỉ khái định suyễn (chống ho, suyễn), tiêu thũng, chỉ thống (giảm đau). Dùng chữa cảm sốt, viêm phế quản mạn tính, hen suyễn, ho gà, viêm ruột, kiết lỵ, đòn ngã chấn thương, khớp xương đau nhức do phong thấp, đau bụng, đau răng, mụn nhọt sưng đau.

Phân bố

Cây cúc áo là loài cây nhiệt đới, hiện chưa được trồng, mọc hoang khắp nơi trên những vùng đất ẩm của Việt Nam như ven đường, ven bãi sống hoặc những vùng đất ẩm trong rừng, ven suối. Giống cây này có mặt nhiều ở vùng đồng bằng hoặc những vùng đất có độ cao dưới 1500m. Ngoài ra giống cây này còn xuất hiện ở nhiều nước khác như Lào, Campuchia, Philippin, Malaisia, Miến Điện, Ấn Độ. Theo một số sách thời trước, loài cây này có nguồn gốc ở Nam Mỹ.

Toàn cây có vị cay tê. Giống cây mọc hoang thường có vị cay tê đậm hơn giống cây trồng. Cụm hoa có vị rất cay, tê nóng.

Thông thường người ta hái hoa hoặc thu hái cả cây vào mùa hè và mùa thu vì lúc này hoa còn có màu vàng xanh rất tốt. Có thể dùng tươi hoặc phơi khô. Có theetr sử dụng hạt hoặc cây non để nhân giống, nên trồng vào mùa xuân.

Bộ phận dùng làm thuốc

Toàn cây hoặc hoa.

Tính vị

Cây Cúc áo hoa vàng có vị đắng, tính ấm, chứa ít độc.
Cây mọc hoang có tính làm tê mạnh hơn cây trồng, đặc biệt ở cụm hoa, nếu chạm phải có thể làm chảy nước dãi.

Thành phần hoá học:

Trong cây và hoa có tinh dầu chứa spilanthol; còn có sterol và một polysaccharid không khử.

Trong cụm hoa cũng như trong toàn cây có (Verbesina acmella L., Eclipta prostrate Lour chứa một tinh dầu mùi cay hăng. Thành phần chủ yếu của tinh dầu là chất spilanten C15 H30 (một chất tecpen đặc biệt) và một chất rượu gọi là spilantola C32H64N20 . Từ 5kg cụm hoa, các tác giả Nhật Bản, Y Asahina và M. Asens (Năm 1920, đã lấy ra được 50g spilantola thô. Chất này tác dụng với axit clohydric cho một bazơ gọi là isobutylamin có công thức C4H11N.

Hydro hoá, spilantola sẽ cho hydrospilantola. Dưới tác dụng của hơi axit clohydric ép, hydrospilantola cho isobutylamin và một hỗn hợp axit béo: axit dexylic C10H20O2 và axit nonylic C9H18O2.

Tác dụng dược lý

Các phân đoạn E5, E7, M2 được tách từ dịch chiết thô của mô sẹo cây cúc áo hoa vàng có hoạt tính ức chế sự phát triển của tế bào ung thư tiền liệt tuyến (IC50 = 12.81mg/ml -16.07mg/ml) nhưng ít độc với tế bào thường vero (IC50.20mg/ml). Phân đoạn E5, E7 có hoạt tính với dòng tế bào ung thư phổi LU-1 (IC50=15.6mg/ml), phân đoạn E7 có hoạt tính với dòng tế vào ung thư vú MCF7 (IC50=19.07mg/ml)

Phân biệt cúc áo hoa vàng với cây cúc áo

Cây cúc áo - Những công dụng chữa bệnh không phải ai cũng biết 10
Phân biệt cúc áo hoa vàng với cây cúc áo

Cúc áo hoa vàng có tên khoa học là (pilanthes acmella L. Murr.). Còn cây cúc áo có tên khoa học là (bidens pilosa L.) hay còn gọi là hoa cứt lợn, quỷ trâm thảo, xuyến chi, đơn kim, tử tô hoang. Cây hoa xuyến chi mọc ở những nơi có không gian thoáng, cây cao chừng 0,3 m đến 0,4 m, cành rậm thường mọc theo từng nhóm. Hoa xuyến chi thuộc loại cây mọc nhanh, ưa sáng và ưa ẩm, thường mọc thành quần thể dày đặc trên đất sau nương rẫy, bãi hoang và dọc theo đường đi.

Cả hai giống cây này đều mọc hoang ở một số địa phương nên dễ gây nhầm lẫn. Do đó để phân biệt được cúc áo hoa vàng và cây cúc áo, bạn nhìn vào cánh hoa của chúng. Nếu cánh hoa màu vầng thì đó là cúc áo hoa vàng, còn nếu cánh hoa màu trắng thì đó là cây cúc áo.

Trên đây, baokhuyennong.com đã tổng hợp và chia sẻ đến các bạn những công dụng chưa bệnh tuyệt vời của cây cúc áo. Đây là một loại thuốc chưa bệnh ít người biết đến những lại chưa những bệnh vặt rất hiệu quả, Chúc bạn sẽ áp dụng thánh công với những chia sẻ của chúng tôi.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *